Giới thiệu kỷ yếu hội thảo sinh thái nhân văn và phát triển bền vững


Print

Sinh thái nhân văn là khoa học dựa trên nguyên tắc quan hệ có hệ thống giữa xã hội loài người (Hệ xã hội) và môi trường thiên nhiên (Hệ sinh thái), làm thành hệ sinh thái nhân văn. Mục đích của hệ sinh thái nhân văn là tìm hiểu và nhận biết các đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống này với nhau và sự hình thành những hình thái đặc trưng trong hệ xã hội và hệ sinh thái[1].

Nghiên cứu và đào tạo sinh thái nhân văn có mặt ở Việt Nam từ cuối những năm 1990, trong khuôn khổ hợp tác giữa Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES), Trung tâm Đông Tây (EWC) của Hoa Kỳ và Mạng lưới Hệ sinh thái Nông nghiệp các Trường Đại học ở Đông Nam Á. Kể từ đó đến nay, sinh thái nhân văn đã trở thành một môn học chính thức trong chương trình đào tạo đại học và sau đại học trong cả nước. Sinh thái nhân văn là khoa học liên ngành dựa trên tiếp cận hệ thống, đã và đang thể hiện tính ưu việt trong việc giải quyết các vấn đề môi trường ngày càng gia tăng trong bối cảnh xã hội luôn luôn thay đổi.

Trong những thập niên vừa qua, đội ngũ được đào tạo về tiếp cận sinh thái nhân văn ở trong nước cũng như ngoài nước khá đông đảo và đang có những đóng góp lớn trong công cuộc phát triển bền vững của Việt Nam. Nhiều nghiên cứu sinh thái nhân văn thực hiện tại các vùng địa lý khác nhau, như miền núi, vùng ven biển, đồng bằng…, đã đưa ra những phát hiện và dự báo có tính thực tiễn cao. Đơn cử, nghiên cứu về xu hướng phát triển miền núi Việt Nam do CRES, Trung tâm Đông Tây thực hiện đã chỉ ra các yếu tố chi phối xu hướng phát triển miền núi của Việt Nam và nhiều gợi mở cho việc xây dựng các chính sách phù hợp, nhằm tránh khỏi một cuộc khủng hoảng phát triển miền núi[2]. Một số nghiên cứu đã nêu bật tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên, là nền tảng cho việc ban hành và xây dựng các chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững[3].

Mặc dù nhiều nghiên cứu với tiếp cận sinh thái nhân văn đã được thực hiện, nhưng còn tản mạn và chưa tập trung, các nhà quản lý và hoạch định chính sách chưa tiếp cận được các kết quả nghiên cứu đưa ra, hay đôi khi các nghiên cứu còn xa rời với thực tiễn. Không những thế, đào tạo sinh thái nhân văn cũng được triển khai ở nhiều trường đại học trong cả nước, như Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Vinh, Đại học Huế…, nhưng cách tiếp cận chưa thống nhất và không mang tính kế thừa, hơn nữa, lý thuyết chưa theo kịp và giải quyết các vấn đề thực tiễn đòi hỏi. Ngoài ra, cũng cần xem xét lại tiếp cận sinh thái nhân văn trong giải quyết các vấn đề môi trường và phát triển hiện nay, như biến đổi khí hậu, mâu thuẫn lợi ích trong sử dụng tài nguyên, thảm họa về môi trường trong bối cảnh xã hội, chính trị và kinh tế của Việt Nam… Chính vì vậy, chúng tôi đề xuất tổ chức Hội thảo Sinh thái nhân văn và phát triển bền vững nhằm nhìn nhận vai trò của nghiên cứu sinh thái nhân văn trong phát triển bền vững trong thời gian qua, củng cố nội dung đào tạo sinh thái nhân văn, xây dựng kế hoạch và phát triển mạng lưới nghiên cứu và đào tạo sinh thái nhân văn, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong tình hình mới.

Ban Biên tập

[1]   Nguyễn Thanh Hóa, 2015. Khai mở ngành sinh thái nhân văn ở Việt Nam. Di sản các Nhà Khoa học Việt Nam Online. Trung tâm Di sản các Nhà Khoa học Việt Nam. http://cpd.vn/news/detail/tabid/77/newsid/2744/ seo/Khai-mo-nganh-sinh-thai-nhan-van-o-Viet-Nam/Default.aspx.

[2]   Jamieson N.L., Le Trong Cuc and A.T. Rambo, 1998. The Development Crisis in Upland of Vietnam. East-West Center, Honolulu, Hawaii: 32 p.

Tran Duc Vien, A.T. Rambo and Nguyen Thanh Lam (Eds.), 2009. Farming with Fire and Water: The Human Ecology of a Composite  Swiddening Community in Vietnam’s Northern Mountains. Kyoto Area Studies on Asia, Center for Southeast Asian Studies, Kyoto University, No.18.

[3]    Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc, 1998. Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.

Xem file chi tiết